Giấu danh sách bạn bè của bạn với mọi người trên Facebook

- Làm thế nào để ẩn tất cả mọi người trong danh sách bạn bè của bạn trước tất cả mọi người hay thậm chí là ngay cả bạn bè của bạn?

Facebook là một xã hội ảo công khai, nơi bạn có thể giữ liên lạc với bạn bè của mình. Tuy nhiên, có cần thiết không khi bạn bè của bạn hoặc ai đó có thể nhìn thấy hết mọi người trong danh sách bạn bè của bạn?

Giấu danh sách bạn bè của bạn với mọi người trên Facebook

Vậy làm thế nào để ẩn tất cả mọi người trong danh sách bạn bè của bạn trước tất cả mọi người hay thậm chí là ngay cả bạn bè của bạn?

Ai có thể nhìn thấy?
 - Tại thời điểm này, ta có 2 kịch bản có khả năng là: hoặc là tất cả mọi người đều có thể nhìn thấy danh sách bạn bè của bạn, hoặc chỉ có bạn bè của bạn mới có khả năng nhìn thấy. Một lưu ý nữa là mọi người nhìn vào danh sách bạn bè của bạn sẽ thấy được giữa bạn và họ có một hay nhiều người bạn chung hay không.

Giấu danh sách bạn bè của bạn với mọi người trên Facebook

Một kịch bản khác là sẽ không có ai có thể nhìn thấy danh sách bạn bè của bạn. Và đây cũng là nội dung hướng dẫn chính của bài viết này.

“Giấu” danh sách bạn bè

Một lưu ý nữa là bên cạnh bạn bè, bạn còn có thể danh sách người dùng đang theo dõi bạn (Follow). Và họ cũng có thể xem danh sách bạn bè của bạn một cách dễ dàng. Vì thế trước tiên ta nên thực hiện thao tác sau để ân danh sách bạn bè với họ.

Bạn truy cập vào tab Friends, nhấn vào biểu tượng cây viết và chọn Edit Privacy.

Giấu danh sách bạn bè của bạn với mọi người trên Facebook

Một cửa sổ nhỏ hiện ra, bây giờ bạn sẽ có được sự thiết lập tùy chọn riêng tư cho việc hiển thị danh sách bạn bè với mọi người trên Facebook. Bây giờ bạn hãy lựa chọn cho phù hợp mục đích của mình.

Giấu danh sách bạn bè của bạn với mọi người trên Facebook

Nếu ẩn với tất cả mọi người thì bạn chọn Only Me, còn nếu chỉ muốn hiển thị với bạn bè thì bạn chọn Friends. Còn Custom sẽ cho bạn quyền thiết lập cụ thể hơn nếu muốn.




Giấu danh sách bạn bè của bạn với mọi người trên Facebook

“Giấu” nhật ký hoạt động

Một lưu ý nữa là mọi người trên Facebook có thể nhìn thấy bạn bè của bạn qua hộp thoại Activity Log (nhật ký hoạt động). Vì thế tốt nhất bạn cũng nên ẩn nó luôn bằng cách nhấn vào biểu tượng hình chiếc ổ khóa và nhấn chọn Who can see my stuff, sau đó chọn tiếp Use Activity Log

Giấu danh sách bạn bè của bạn với mọi người trên Facebook

Bạn sẽ được chuyển sang trang quản lí nhật kí hoạt động của tài khoản. Bây giờ bạn hãy chọn Friends ở thanh bên, nếu không có, bạn hãy nhấn MORE như hình

Giấu danh sách bạn bè của bạn với mọi người trên Facebook

Ok, bạn sẽ thấy được danh sách mở rộng của nhật ký, hãy nhấn vào Friends

Giấu danh sách bạn bè của bạn với mọi người trên Facebook

Bây giờ bạn hãy nhấn vào biểu tượng ở sau dòng Who can see your friends list? và tiến hành lựa chọn cho phép xem nhật ký kết bạn của bạn, ở đây tôi sẽ chọn là Only Me để ẩn hoàn toàn.

Giấu danh sách bạn bè của bạn với mọi người trên Facebook

Thế là xong, bây giờ thì danh sách bạn bè của bạn đã được ẩn hoàn toàn rồi đó. Hi vọng bài viết sẽ có ích cho bạn.

VPN là gì?

Nhu cầu truy cập từ xa (ngoài văn phòng) mạng nội bộ để trao đổi dữ liệu hay sử dụng ứng dụng ngày càng phổ biến. Đây là nhu cầu thiết thực, tuy nhiên do vấn đề bảo mật và an toàn thông tin nên các công ty ngại "mở" hệ thống mạng nội bộ của mình để cho phép nhân viên truy cập từ xa. Bài viết này trình bày giải pháp truy cập từ xa VPN trên Windows Server 2003 có cơ chế mã hóa dựa trên giao thức IPSec nhằm đảm bảo an toàn thông tin.

VPN

VPN (virtual private network) là công nghệ xây dựng hệ thống mạng riêng ảo nhằm đáp ứng nhu cầu chia sẻ thông tin, truy cập từ xa và tiết kiệm chi phí. Trước đây, để truy cập từ xa vào hệ thống mạng, người ta thường sử dụng phương thức Remote Access quay số dựa trên mạng điện thoại. Phương thức này vừa tốn kém vừa không an toàn. VPN cho phép các máy tính truyền thông với nhau thông qua một môi trường chia sẻ như mạng Internet nhưng vẫn đảm bảo được tính riêng tư và bảo mật dữ liệu. Để cung cấp kết nối giữa các máy tính, các gói thông tin được bao bọc bằng một header có chứa những thông tin định tuyến, cho phép dữ liệu có thể gửi từ máy truyền qua môi trường mạng chia sẻ và đến được máy nhận, như truyền trên các đường ống riêng được gọi là tunnel. Để bảo đảm tính riêng tư và bảo mật trên môi trường chia sẻ này, các gói tin được mã hoá và chỉ có thể giải mã với những khóa thích hợp, ngăn ngừa trường hợp "trộm" gói tin trên đường truyền.

Các tình huống thông dụng của VPN:

- Remote Access: Đáp ứng nhu cầu truy cập dữ liệu và ứng dụng cho người dùng ở xa, bên ngoài công ty thông qua Internet. Ví dụ khi người dùng muốn truy cập vào cơ sở dữ liệu hay các file server, gửi nhận email từ các mail server nội bộ của công ty.

- Site To Site: Áp dụng cho các tổ chức có nhiều văn phòng chi nhánh, giữa các văn phòng cần trao đổi dữ liệu với nhau. Ví dụ một công ty đa quốc gia có nhu cầu chia sẻ thông tin giữa các chi nhánh đặt tại Singapore và Việt Nam, có thể xây dựng một hệ thống VPN Site-to-Site kết nối hai site Việt Nam và Singapore tạo một đường truyền riêng trên mạng Internet phục vụ quá trình truyền thông an toàn, hiệu quả.

- Intranet/ Internal VPN: Trong một số tổ chức, quá trình truyền dữ liệu giữa một số bộ phận cần bảo đảm tính riêng tư, không cho phép những bộ phận khác truy cập. Hệ thống Intranet VPN có thể đáp ứng tình huống này. 

Để triển khai một hệ thống VPN chúng ta cần có những thành phần cơ bản sau đây:

- User Authentication: cung cấp cơ chế chứng thực người dùng, chỉ cho phép người dùng hợp lệ kết nối và truy cập hệ thống VPN.

- Address Management: cung cấp địa chỉ IP hợp lệ cho người dùng sau khi gia nhập hệ thống VPN để có thể truy cập tài nguyên trên mạng nội bộ.

- Data Encryption: cung cấp giải pháp mã hoá dữ liệu trong quá trình truyền nhằm bảo đảm tính riêng tư và toàn vẹn dữ liệu.

- Key Management: cung cấp giải pháp quản lý các khoá dùng cho quá trình mã hoá và giải mã dữ liệu.

IPSEC (IP SECURITY PROTOCOL)

Như chúng ta biết, để các máy tính trên hệ thống mạng LAN/WAN hay Internet truyền thông với nhau, chúng phải sử dụng cùng một giao thức (giống như ngôn ngữ giao tiếp trong thế giới con người) và giao thức phổ biến hiện nay là TCP/IP.

Khi truyền các gói tin, chúng ta cần phải áp dụng các cơ chế mã hóa và chứng thực để bảo mật. Có nhiều giải pháp để thực hiện việc này, trong đó cơ chế mã hóa IPSEC hoạt động trên giao thức TCP/IP tỏ ra hiệu quả và tiết kiệm chi phí trong quá trình triển khai.

Trong quá trình chứng thực hay mã hóa dữ liệu, IPSEC có thể sử dụng một hoặc cả hai giao thức bảo mật sau:

- AH (Authentication Header): header của gói tin được mã hóa và bảo vệ phòng chống các trường hợp "ip spoofing" hay "man in the midle attack", tuy nhiên trong trường hợp này phần nội dung thông tin chính không được bảo vệ

- ESP (Encapsulating Security Payload): Nội dung thông tin được mã hóa, ngăn chặn các trường hợp hacker đặt chương trình nghe lén và chặn bắt dữ liệu trong quá trình truyền. Phương thức này rất hay được áp dụng, nhưng nếu muốn bảo vệ luôn cả phần header của gói tin thì phải kết hợp cả 2 giao thức AH và ESP.

IPSec/VPN trên Windows Server 2003

Chúng ta tham khảo tình huống thực tế của công ty Green Lizard Books, một công ty chuyên xuất bản và phân phối văn hoá phẩm. Nhằm đẩy mạnh hiệu quả kinh doanh, bộ phận quản lý muốn các nhân viên kinh doanh trong quá trình công tác ở bên ngoài có thể truy cập báo cáo bán hàng (Sale Reports) chia sẻ trên File Server và có thể tương tác với máy tính của họ trong văn phòng khi cần thiết. Ngoài ra, đối với các dữ liệu mật, nhạy cảm như báo cáo doanh số, trong quá trình truyền có thể áp dụng các cơ chế mã hóa chặt chẽ để nâng cao độ an toàn của dữ liệu. 

Green Lizard Books cần có một đường truyền ADSL với địa chỉ IP tĩnh phục vụ cho quá trình kết nối và truyền thông giữa trong và ngoài công ty. Các người dùng ở xa (VPN Client) sẽ kết nối đến VPN Server để gia nhập hệ thống mạng riêng ảo của công ty và được cấp phát địa chỉ IP thích hợp để kết nối với các tài nguyên nội bộ của công ty.

Chúng ta sẽ dùng 1 máy Windows Server 2003 làm VPN Sever (đặt tên là SRV-1), có 1 card mạng kết nối với hệ thống mạng nội bộ (IP: 192.168.1.1) và một card ADSL (IP tĩnh, nếu dùng IP động thì phải sử dụng kết hợp với các dịch vụ Dynamic DNS như DtnDNS.Org hay No-IP.Com) để kết nối với bên ngoài (Internet).

Để quản lý người dùng trên hệ thống và tài nguyên chúng ta cần có 1 domain controler cài đặt trên Windows Server 2003 tên là SRV-11 (IP: 192.168.0.11).

Trong mô hình này, chúng ta sử dụng một máy client bên ngoài chạy hệ điều hành Windows XP, kết nối VPN với cơ chế chứng thực và mã hóa dữ liệu dựa trên IPSec ESP.

Ở đây tôi chỉ trình bày những buớc chính trong quá trình triển khai, chi tiết cài đặt và cấu hình các bạn có thể tham khảo các tập tin video (.avi) tải về ở website www.pcworld.com.vn.

Bước 1: Tạo domain controler 

(dcpromo-srv-11-greenlizardbooks-domain-controller.avi)

Bước 2:
 Đưa SRV-1 (VPN Server) vào domain


(join_srv-1_server_to_domain.avi)

Bước 3: cài đặt VPN Server trên SRV-1

(install_vpn_server_on_srv-1.avi)

Bước 4:
 Thiết lập VPN Client Client-1 kết nối đến VPN Server


(create_vpn_client_1_and_connect_to_srv-1_vpn_server.avi)

Bước 5:
 Kết nối VPN Client Client-1 vào domain


(join-vpn-client-1-to-greenlizardbooks_domain.avi)

Bước 6: Yêu cầu cấp phát chứng chỉ điện tử (certificate) cho VPN Server và Client dùng để chứng thực và mã hóa.

(request_certificate_for_vpn_server_and_client.avi)

Bước 7: Thiết lập kết nối VPN dùng giao thức L2TP/IPSEC 


(establish_L2TP_VPN_connection.avi)


KẾT LUẬN
VPN là công nghệ được sử dụng phổ biến hiện nay nhằm cung cấp kết nối an toàn và hiệu quả để truy cập tài nguyên nội bộ công ty từ bên ngoài thông qua mạng Internet. Mặc dù sử dụng hạ tầng mạng chia sẻ nhưng chúng ta vẫn bảo đảm được tính riêng tư của dữ liệu giống như đang truyền thông trên một hệ thống mạng riêng. Giải pháp VPN "mềm" giới thiệu trong bài viết này thích hợp cho số lượng người dùng nhỏ, để đáp ứng số lượng người dùng lớn hơn, có thể phải cần đến giải pháp VPN phần cứng. 


TUNNELING


Tunneling là kỹ thuật sử dụng một hệ thống mạng trung gian (thường là mạng Internet) để truyền dữ liệu từ mạng máy tính này đến một mạng máy tính khác nhưng vẫn duy trì được tính riêng tư và toàn vẹn dữ liệu. Dữ liệu truyền sau khi được chia nhỏ thành những frame hay packet (gói tin) theo các giao thức truyền thông sẽ được bọc thêm 1 lớp header chứa những thông tin định tuyến giúp các packet có thể truyền qua các hệ thống mạng trung gian theo những đường riêng (tunnel). Khi packet được truyền đến đích, chúng được tách lớp header và chuyển đến các máy trạm cuối cùng cần nhận dữ liệu. Để thiết lập kết nối tunnel, máy client và server phải sử dụng chung một giao thức (tunnel protocol).

- PPTP (Point-to-Point Tunneling Protocol): PPTP có thể sử dụng cho Remote Access hay Site-to-Site VPN. Những thuận lợi khi áp dụng PPTP cho VPN là không yêu cầu certificate cho quá trình chứng thực và client có thể đặt phía sau NAT Router.

- L2TP ( Layer 2 Tunneling Protocol): L2TP là sự kết hợp của PPTP và Layer 2 Forwading (L2F, giao thức được phát triển bởi Cisco System). So với PPTP thì L2TP có nhiều đặc tính mạnh và an toàn hơn. 

Trên hệ thống Microsoft, L2TP được kết hợp với IPSec Encapsulating Security Payload (ESP) cho quá trình mã hóa dữ liệu, gọi là L2TP/IPSec. Sự kết hợp này không chỉ cho phép chứng thực đối với người dùng PPTP mà còn cho phép chứng thực đối với các máy tính thông qua các chứng chỉ, nâng cao hơn độ an toàn của dữ liệu khi truyền, và quá trình tunnel có thể diễn ra trên nhiều hệ thống mạng khác nhau. Tuy nhiên trong môi trường L2TP/IPSec các VPN Client không thể đặt phía sau NAT Router. Trong trường hợp này chúng ta cần phải có VPN Server và VPN Client hỗ trợ IPSec NAT-T.

Cách lấy lại mật khẩu Facebook nhờ bạn bè

Cách thiết lập và sử dụng tính năng “Trusted Contacts” để khôi phục quyền truy cập tài khoản Facebook nhờ bạn bè.
Cách lấy lại mật khẩu Facebook nhờ bạn bè

Mới đây, Facebook đã tung ra tính năng mới “Trusted Contacts” để giúp tài khoản của bạn an toàn hơn. Trong trường hợp quên password (mật khẩu) hoặc tài khoản Facebook bị “hack”, bạn có thể viện tới sự trợ giúp của 3 hoặc 5 người bạn để lấy lại quyền truy cập.
Khi không truy cập được tài khoản, bạn cần liên lạc với những người mà bạn đã cho vào danh sách “Trusted Contacts” và đề nghị họ giúp đỡ.

Dưới đây là cách thiết lập tính năng này:

Bước 1: Đăng nhập tài khoản Facebook. Nhấn vào biểu tượng Settings hình bánh răng ở góc trên cùng bên phải, chọn “Account Settings”, sau đó chọn mục “Security”. Hoặc bạn có thể truy cập trực tiếp vào mục Trusted Contacts bằng cách nhấn vào link này. Nhấn vào liên kết “Choose Trusted Contacts” để bắt đầu.
Cách lấy lại mật khẩu Facebook nhờ bạn bè
Bước 2: Bạn sẽ nhận được phần tóm tắt cơ bản về tính năng Trusted Contacts. Nhấn vào nút “Choose Trusted Contacts” để tiếp tục.
Cách lấy lại mật khẩu Facebook nhờ bạn bè

Bước 3: Bạn cần chọn tối thiểu 3 người bạn và tối đa 5 người vào danh sách. Sau khi chọn tên bạn bè xong, nhấn nút “Confirm” (Xác nhận) và nhập password để lưu lại danh sách.
Cách lấy lại mật khẩu Facebook nhờ bạn bè

Lưu ý: Bạn nên chọn những người mà bạn thực sự tin tưởng, những người mà bạn có thể liên lạc với họ ngay khi không truy cập được tài khoản (có thể gặp trực tiếp, nói chuyện qua điện thoại hoặc các công cụ “chat”).
Khi cần bạn bè trong danh sách “Trusted Contacts” giúp khắc phục quyền truy cập tài khoản, hãy đề nghị họ truy cập Facebook.com/recover. Tại đây, những người đó sẽ được đề nghị xác minh rằng bạn đang yêu cầu lấy code (mã số) an toàn. Sau đó, họ sẽ nhận được một mã số. Bạn cần nhận được mã số từ tất cả những người trong danh sách để lấy lại quyền truy cập tài khoản. Ví dụ, nếu có 5 người trong danh sách “Trusted Contacts”, bạn cần nhận được mã số từ cả 5 người này.

Khi không đăng nhập được tài khoản Facebook:

Từ màn hình đăng nhập Facebook, nhấn vào liên kết “Forgot your password?”, gõ địa chỉ email của bạn và nhấn nút “Search”. Trong trang “Reset Your Password”, nhấn vào liên kết “No longer have access to these?”.
Cách lấy lại mật khẩu Facebook nhờ bạn bè

Bạn cần liên lạc với những người trong danh sách “Trusted Contacts” để lấy được các mã an toàn. Sau đó, nhập từng mã an toàn và nhấn “Submit Codes”.

Bảng mã màu cho anh em thiết kế Website

Dưới đây là bảng mã màu giúp anh em Design rễ ràng chọn tông màu cho Theme.

Sửa lỗi không đăng nhập được vào Yahoo

Bạn không đăng nhập vào được nick chat Yahoo Messenger. Xin lỗi các bạn hôm nay mình vào Yahoo Messenger hoài mà không được kiểm tra lại mới thấy cách cũ mình giới thiệu trước đây không dùng được nữa. Giờ mình xin giới thiệu cách mới như sau:
Do một số hình ảnh bị lỗi nên mình hướng dẫn các bạn cả bằng Video.

1. Yahoo báo lỗi như sau:

- Nếu bạn dùng phiên bản tiếng anh
- Và nếu bạn dùng phiên bản tiếng việt

2. Các cách khắc phục từ đơn giản đến nang cao

- Bạn hãy thực hiện lần lượt từng bước bên dưới. Sau mỗi bước lại login một lần nếu thành công là bạn đã làm được: 
Cách 1. Đầu tiên các bạn ấn vào "khắc phục sự cố" (Troubleshoot) nếu không được các bạn làm theo các các cách sau:

Cách 2. Cách này mình vừa thực hiện lúc 1h58' (13/2/2013) đã thành công 1- Bật Internet Explorer lên sau đó vào Tools -> Internet Option
2- Vào thẻ Privacy sau đó chọn Advanced
3- nhấn có mặc định phần Override automatic cookie handling rồi chọn accept và bên kia là chọn vào phần block rồi Ok
4- Bi giờ các bạn đăng nhập thử lại vào Yahoo Mesenger là được. Nếu vẫn không được thì hãy làm tiếp cách 3 bên dưới.
Cách 3. Lỗi trên có thể do bạn thường xuyên dùng Firefox trong thời gian quá dài mà bỏ quên IE khiến Proxy không nhận dạng IE mà IE rất cần thiết trong việc hỗ trợ quá trình đăng nhập Y!M do đó khiến gây ra lỗi (81003004) hoặc lỗi (81003005) vì vậy chúng ta có thể khắc phục bằng cách bỏ phần kiểm tra lỗi Proxy trên Internet Explorer bằng cách sau: 3.1- Mở trình duyệt Internet Explorer 3.2- Vào Toots => Chọn Internet Options như ảnh:
3.3- Chọn thẻ Connections.
3.4- Bỏ dấu chọn ở mục Use a proxy server for your LAN (There settings will not apply to dial-up or VPN connections
3.5- Nhấn chọn ok -> chọn ok tiếp
- Vào lại Yahoo và xem kết quả. Nếu vẫn gặp lỗi hãy xem cách 4. 
Bạn chú ý nha ở cửa sổ bạn cài đặt đó sau khi chỉnh sửa song bạn phải ấn nút Apply (cùng hàng với nút Ok đó) sau đó mới ấn nút Ok như vậy là thiết lập của bạn xẽ được lưu vĩnh viễn, nhứng lần sau khởi động lại máy xẽ không bị nữa đâu

Cách 4: Nguyên nhân tình trạng này có thể là do tác động của chương trình diệt virus [thường là do Kaspersky và BitDefender hoặc phần mềm diệt virus nào đấy...], vì chương trình cho rằng Y!M là nguy hiểm vì đã gửi thông tin cá nhân từ máy bạn lên internet, vì thế Kaspersky sẽ xóa mất file YahooMessenger.exe. Để khắc phục trước hết bạn cần cài lại Y!M. Sau đó chỉnh sửa lại Kaspersky như sau: vào Setting >Threats and exclusions, nhấp vào TrustedZone, chuyển sang Tab Trusted applications [trong đây liệt kê những ứng dụng mà Kaspersky tin tưởng là an toàn], nhấn Browse, định đường dẫn đến Y!M [thường là ổ C:/Program File/ Yahoo/ Messenger/ YahooMessenger.exe], điền vào các ô lựa chọn ở phía dưới. -Do not scan opened file: không quét những file đã mở. -Do not restrict application activity: không giới hạn hoạt động của ứng dụng -Do not restrict registry access: không giới hạn truy cập registry. -Do not scan network traffic: không quét trao đổi trên mạng Việc lựa chọn này có thể tiềm ẩn nguy cơ, nhưng kinh nghiệm thực tế cho thấy chưa gặp bất kỳ vấn đề gì. - Sau đó bạn nhấn OK để hoàn tất. - Với Y!M bạn nhấn phải chuột lên biểu tượng Y!M trên desktop, chọn Properties, sang bảng Tab Compatibility, chọn Run this program in compatibility mode for, chọn windows XPv.v... nhấn OK để hoàn tất.
Lưu ý: Bạn nên chỉnh lại phần mềm diệt virus kể cả phần mềm diệt virus khác. Hoặc tạm tắt các phần mềm diệt virus, hoặc tạm gỡ bỏ phần mềm diệt virus trước khi cài đặt Yahoo!

Cách 5: Nguyên nhân có thể do bức tường lửa của Windows [Chú ý: bất kỳ hệ điều hành nào cũng có tích hợp bức tường lửa "Firewall"] bằng cách: 5.1- Nhấn menu Start mở hộp Run gõ cmd và nhấn Enter. 5.2- Tại cửa sổ dòng nhắc lệnh Command Prompt ta sử dụng câu lệnh với cú pháp và tham số gõ nhập là: netsh firewall set opmode disable và nhấn Enter để hoàn tất tác vụ. Hoặc chương trình nào đấy có công năng tương tự “Firewal”đã chặn nhầm vì cho rằng Y!M là nguy hiểm. 
Cách 6:  Hoặc máy của bạn có khả năng bị nhiễm virus AutoRun thường là kavo! ta khắc phục bằng cách dùng đĩa LHT mới nhất mua ở ngoài cửa hàng chỉ có 10.000 vnđ Bạn có thể tham khảo cách dùng đĩa CD Hiren’s Boot diệt virus trong môi trường DOS tại địa chỉ: http://www.mediazone.vn/home/lehoangoroi… 
Lưu ý: khi dùng đĩa LHT bạn nên tắt kết nối Internet, tắt System Restore trước khi diệt virus sẽ hiệu quả hơn. 
Đồng thời vào Control Panel mở folder options > chọn views > show all file và hủy chọn hide protected operating system file. Tiếp đến dò tìm các ổ cứng và xóa hoàn toàn [nhấn shift+delete] các file autorun.inf vàpage.pif Tiếp theo mở Start > Run > gõ Msconfig > startup, hủy chọn các chương trình khởi động có dạng ~exe~1.exe đi. Sau đó khởi động lại máy và quét virus toàn bộ hai lần, và tắt ngắt nguồn điện ra khỏi máy chờ khoảng 30 phút sau mới có thể tiếp tục cho máy tính hoạt động trở lại. Sau khi diệt virus lần hai khi khởi động máy lại, nếu nó hiện bảng thông báo không tìm thấy file…exe gì đó. Tình trạng này là do các file nhiễm virus đã bị chương trinh diệt virus xóa nhưng các lệnh kích hoạt chúng thì vẫn tồn tại . Do vậy ta hãy xóa các lệnh này bằng cách nhấn menuStart mở hộp Run, gõ regedit > Enter. Cửa sổ hiện ra, trong khung bên trái, click trỏ phải lên hàng chữ HKEY_CLASSES_ROOT, gõ tên file…exe [xuất hiện trong bảng cảnh báo…] vào ô trống trong cửa sổ hiện ra và bấm Enter, khi cửa sổ này mất đi, bấm phím F3 để nhảy hàng chữ chứa lệnh kích hoạt file…exe trong khung bên phải, bấm phím Delete để xóa lệnh này, sau đó bấm phím F3 để tìm và xóa tất cả các lệnh liên quan tới file virus...exe.  Ngoài ra cũng có thể dùng HijackThis http://www.pcworld.com/downloads/file/fi… để xoá các khoá và các process đang chạy. Mặt khác bạn mở hộp Run gõ nhập services.msc và double click lên những thứ liên quan đến File virus...exe gì đó [tên con virus] chọn Stop > Start up type > Disable và khởi động máy lại.  Hoặc bạn nên dùng phần mềm AE chuyên dụng tự động diệt virus AutoRunhttp://www.download.com/Autorun-Eater/30… dễ sử dụng hơn là diệt virus bằng thủ công.
Cách 7.  Nếu trường hợp bạn gỡ bỏ và cài lại Yahoo! mà đường truyền của bạn chậm thì quá trình cài đặt sẽ tốn rất nhiều thời gian hoặc trong quá trình cài đặt mà đường kết nối bị đứt thì sẽ trở thành vô ích. Do đó chúng ta nên cài đặt Offline bản Yahoo! Messenger 10(10.0.0.1241) thuầnViệt: http://xh.yimg.com/gj/msgr/115/client/ymsgr1150_0228_vn.exe Hoặc bản tiếng Anh: http://xh.yimg.com/gj/msgr/115/client/ymsgr1150_0228_us.exe Để cài đặt Y!M sau khi bạn nhấn vào link nó sẽ hiện lên một cái bảng thì bạn nhấn vào nút Runrồi bạn chờ một chút để nó tải về > Sau khi nó tải xong sẽ hiện lên cái bảng như trước thì bạn tiếp tục nhấn vào nút Open Folder > và nó sẽ hiện bảng chào mừng Welcome và nhấn nútNext > Sau đó bạn đánh dấu kiểm vào ô có chữ Yes, I accept rồi nhấn Finish > Sau đó lần lượt 3 trang khác hiện ra thì bạn nhấn Next > và cuối cùng nhấn nút Finish để hoàn tất cài đặt.

Đăng ký Google code để làm host lưu trữ file JS và CSS hoặc code bất kỳ

Khi làm blogger hẳn các bạn muốn có 1 chỗ lưu các file JS hoặc CSS để thuận tiện cho việc thiết kế. Host là gì thì chắc hẵn các bạn cũng đã từng nghe nói qua hay cũng đã biết rồi mình không nhắc lại ở đây. Điều mình nói ở đây là làm sao để tìm một host ổn định và miễn phí. Hiện nay có rất nhiều trang website cung cấp cho bạn host miễn phí tuy nhiên không phải hosting nào cũng tốt, cũng đảm bảo ổn định. Và bài viết này mình chia sẻ cùng các bạn cách để bạn có thể đăng ký và sử dụng Google code cho việc lưu trữ các file JS dùng trong web/blog của mình.

Đăng ký Google Code

Trước tiên hãy tạo một tài khoản tại Google, nếu đã có tài khoản thì bạn hãy đăng nhập vào và đi tới liên kết này: http://code.google.com/hosting/
 - Trang web load xong chọn Create a new project để bắt đầu.


Microdata là gì?

Giới thiệu
Vào 05.2011, bộ ba Google, Yahoo, Bing đã công bố schema.org và mọi người đã bắt đầu nói về dữ liệu có cấu trúc. Schema.org là một cách mới để các máy tìm kiếm hiểu các trang web. Nếu các tác giả nội dung web thêm một chút siêu dữ liệu vào các trang của họ — chỉ một vài thuật ngữ của bảng từ vựng — thì các kết quả tìm kiếm của họ hiển thị tốt hơn trong cả ba máy tìm kiếm.
Đánh dấu thêm đã không thay đổi cách hiển thị các kết quả tìm kiếm cho nhiều trang đã thực hiện schema.org. Mặc dù, các tác giả nội dung web vẫn còn háo hức để nhận được các trang của họ được đánh dấu và sẵn sàng để sử dụng trong cả ba máy tìm kiếm lớn.
Schema.org đặt ra một thách thức cho các tác giả web chưa có kinh nghiệm với các cú pháp khác nhau để bổ sung thêm dữ liệu có cấu trúc vào HTML. Các cú pháp là:
  • Microformats (vi định dạng).
  • RDFa
  • Microdata (Vi dữ liệu).
Để tăng thêm thách thức này, Google (máy tìm kiếm có ảnh hưởng nhất đối với nhiều tác giả web) đã cho biết nó sẽ chỉ xử lý microdata. Microdata, là mới nhất trong ba cú pháp nói trên, vẫn chưa có nhiều công cụ hỗ trợ.
Trong bài này, hãy tìm hiểu cách sử dụng Drupal để thêm microdata vào các trang của bạn. Chuẩn bị nội dung của bạn sao cho có thể sử dụng nó trong các ứng dụng như Rich Snippets của Google.
Microdata là gì?

Các từ viết tắt thông dụng

  • FOAF: Bạn của một người bạn
  • RDF: Khung công tác mô tả tài nguyên
  • RDFa: RDA với các thuộc tính
Microdata là một cách đơn giản để thêm dữ liệu có cấu trúc vào các trang web. Nó định nghĩa một vài thuộc tính, như itemtype và itemprop, có thể được đặt vào các thẻ HTML để cho biết trang đó là về cái gì. Microdata được Ian Hickson, một biên tập viên về đặc tả HTML 5, giới thiệu vào năm 2009. Mặc dù, các nguồn gốc của ý tưởng này có trước đó lâu rồi.
Microdata dựa trên RDFa, là một cách đặt RDF trong HTML. Ý tưởng về RDFa đã được Mark Birbeck giới thiệu vào năm 2004 với một lưu ý được W3C công bố. Sau đó, ý tưởng này được tích hợp vào phiên bản tiếp theo là XHTML. RDFa đã giới thiệu một số thuộc tính HTML mới, như property và about và đã sử dụng lại một số thuộc tính, như rel.
RDFa mạnh mẽ, nhưng với các tác giả, có thể khó mà biết được liệu RDFa của họ có đúng không do các tương tác của các thuộc tính đôi khi phức tạp. RDFa cũng đã thừa hưởng một số tính năng của XML, như các tiền tố vùng tên, có thể gây khó hiểu.
Các microformat (vi định dạng), một phiên bản khác của dữ liệu có cấu trúc trong XHTML, đã được khởi chạy gần một năm sau bởi một nhóm các nhà phát triển. Trái ngược với RDFa, các microformat sử dụng lại các thuộc tính XHTML hiện có mà các tác giả nội dung web vẫn thường sử dụng, như thuộc tính rel trên các liên kết. Các microformat cũng thêm một ít ngữ nghĩa bên trong các thuộc tính đó. Người ta đã đặt tầm quan trọng vào cách chỉ đánh dấu nội dung nhìn thấy được; đối với nội dung không nhìn thấy được, rất dễ bị sử dụng sai hoặc mất đồng bộ với nội dung nhìn thấy được.
Một vấn đề với các microformat là không có một cách chung để phân tích cú pháp chúng. Thay vào đó, người ta đã tăng thêm sự hỗ trợ cho mỗi microformat. Ví dụ, nếu bạn muốn xử lý dữ liệu lịch và dữ liệu địa chỉ, bạn phải chắc chắn rằng trình phân tích cú pháp của bạn hỗ trợ cả hai loại dữ liệu đó hoặc sử dụng hai trình phân tích cú pháp khác nhau. Cũng có thể rất khó để nhận được một microformat mới được xuất bản thông qua phương thức cộng đồng.
Microdata kết hợp các ý tưởng tốt từ cả hai các microformat lẫn RDFa với nhau. Microdata:
  • Giảm sự phức tạp của RDFa bằng cách giảm số lượng các thuộc tính và các tùy chọn cho việc bố trí của chúng.
  • Loại bỏ các tiền tố vùng tên.
  • Duy trì phân tích cú pháp chung RDFa, giúp cho việc tạo các công cụ làm việc trên dữ liệu đã xuất bản dễ dàng hơn.
  • Duy trì khả năng cho các nhóm người khác nhau để tạo các bộ các giá trị thuộc tính riêng của họ, được gọi là các bảng từ vựng, để sử dụng với microdata.

Thêm nút "Chia sẻ trên Facebook" lên thanh Bookmarks (nút chia sẻ nhanh lên facebook)

Khi các bạn muốn chia sẻ link, hay một bài viết thì các bạn phải copy link của nó rồi paste vào ô trang thái rồi bấm đăng cũng chưa được tiện cho lắm. Facebook có hỗ trợ nút "Chia sẻ trên Facebook" mà chúng ta có thể để nó trên thanh Bookmarks của trình duyệt. Nó sẽ thuận tiện hơn rất nhiều nếu như bạn là một người hay chia sẻ link hay bài viết.


Các bạn vào link này: http://www.facebook.com/share_options.php

Và đơn giản chỉ cần giữ chuột trái kéo cái biểu tượng lên Bookmarks là xong (Xem hình).


Hoặc các bạn có thể click chuôt phải vào Bookmark chọn New Bookmark trong Firefox và điền vào:
- Name: Chia sẻ trên Facebook (hoặc tuỳ các bạn đặt)
- Location (URL):
javascript:var%20d=document,f='http://www.facebook.com/share',l=d.location,e=encodeURIComponent,p='.php?src=bm&v=4&i=1367282529&u='+e(l.href)+'&t='+e(d.title);1;try{if%20(!/^(.*\.)?facebook\.[^.]*$/.test(l.host))throw(0);share_internal_bookmarklet(p)}catch(z)%20{a=function()%20{if%20(!window.open(f+'r'+p,'sharer','toolbar=0,status=0,resizable=1,width=626,height=436'))l.href=f+p};if%20(/Firefox/.test(navigator.userAgent))setTimeout(a,0);else{a()}}void(0)

Hoặc Add page trong Google Chrome
 - Name: Chia sẻ trên Facebook
 - URL:
javascript:var d=document,f='http://www.facebook.com/share',l=d.location,e=encodeURIComponent,p='.php?src=bm&v=4&i=1367281023&u='+e(l.href)+'&t='+e(d.title);1;try{if (!/^(.*\.)?facebook\.[^.]*$/.test(l.host))throw(0);share_internal_bookmarklet(p)}catch(z) {a=function() {if (!window.open(f+'r'+p,'sharer','toolbar=0,status=0,resizable=1,width=626,height=436'))l.href=f+p};if (/Firefox/.test(navigator.userAgent))setTimeout(a,0);else{a()}}void(0)

Sau đó OK.

Khi các bạn đang xem 1 bài viết mà muốn chia sẻ luôn bạn chỉ việc bấm vào nút "Chia sẻ Facebook" trên thanh Bookmarks và nó sẽ hiện ra một cửa sổ như hình dưới.


Rồi bấm "Chia sẻ liên kết". Đơn giản và thuận tiện hơn rất nhiều đúng không nào.